CHÚA THÁNH THẦN VÀ VIỆC TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

 

 

Lm. Giuse Đinh Đức Đạo

 

Công cuộc truyền giáo đă được Đức Thánh Cha nói đến trong phần chót của tông thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Tới, đặc biệt trong hai số 56 và 57. Việc truyền giáo được nói sau cùng không có nghĩa là kém phần quan trọng, nhưng là coi đó như cao điểm, kết quả của tất cả nỗ lực hối cải và canh tân cuộc sống của Giáo Hội trong Năm Thánh 2000. Do đó, công cuộc truyền giáo nói lên sức sống mănh liệt đă vươn lên trong ḷng Giáo Hội và mở rộng trước mắt một viễn tượng mênh mông bát ngát của sứ mệnh. Đó là viễn tượng  các hoạt động của Chúa Thánh Thần dẫn dắt Giáo Hội rộng mở biên cương, ra đi đem Tin Mừng ơn cứu độ đến tận cùng thế giới:  "Giáo Hội chỉ nhắm có một điều duy nhất, đó là, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tiếp tục chính công việc của Chúa Kitô, Đấng đă đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật, để cứu độ chứ không phải để kết án, để phục vụ chứ không phải để được phục vụ" (NNTB, 56). Sau lời xác nhận đó, Đức Thánh Cha đă lược lại tất cả lịch sử  công cuộc truyền giáo của Giáo Hội bắt đầu ngay từ thời kỳ phôi thai và sau cùng kết luận: "Trong tương lai, Giáo Hội vẫn tiếp tục là một Giáo Hội truyền giáo v́ đặc tính  truyền giáo nằm trong chính bản tính của Giáo Hội" (NNTB, 57).

Đề tài này có mục đích t́m hiểu thực trạng truyền giáo hiện nay dưới ánh sáng của những tác động của Chúa Thánh Thần để t́m ra những là những áp dụng cụ thể cho đời sống người tín hữu được kêu gọi dấn thân đem Tin Mừng đến cho thế giới.  Để ư tưởng có phần mạch lạc, đề tài sẽ được diễn tả từ từ theo 3 điểm chính yếu: 1) Ư nghĩa và thực tại công việc truyền giáo; 2) Sự quan hệ mật thiết giữa công tác truyền giáo và sự hiện diện của Chúa Thánh Thần; 3) Đời sống tâm linh  trước sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

 

  

I. Ư NGHĨA VÀ T̀NH TRẠNG CÔNG VIỆC TRUYỀN GIÁO

 

Công cuộc truyền giáo được nhiều người nhắc nhở, nhưng ư nghĩa nhiều khi lại được hiểu một cách khác nhau.  V́ vậy, việc trước tiên cần phải làm là t́m hiểu rơ ràng ư nghĩa đích thực của công việc truyền giáo.

Theo giáo huấn của thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế (số 30, 33  và 34),  Giáo  Hội chỉ  có một sứ mệnh là rao giảng Tin Mừng và làm chứng  cho Chúa Giêsu để mọi người có thể cảm nghiệm được t́nh yêu của Ngài, yêu mến và tin theo Ngài. Tuy nhiên, tùy theo đối tượng và hoàn cảnh, sứ mệnh  đó được phân biệt ra 3 công tác khác nhau tuy luôn liên quan mật thiết với nhau:

a) Đối tượng và hoàn  cảnh thứ nhất của sứ mệnh của Giáo Hội là  các cộng đồng  các tín hữu công  giáo đang sống đức tin   cách thành tín.  Tuy đă thành tâm tin theo Chúa, đức tin của họ cần phải  được bồi dưỡng  luôn và phải  dược vun tưới cho thêm sâu đậm. Sứ mệnh thực hiện trong môi trường này  gọi là công tác Mục Vụ (pastoral care).

b) Đối tượng và hoàn cảnh thứ hai của sứ mệnh của Giáo Hội, được thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế gọi là hoàn  cảnh nửa mạc nửa mỡ (intermediary situation). Đây là hoàn   cảnh của  các nhóm tín hữu kitô đă chịu phép rửa, và đă tin theo Chúa  nhưng, v́ những thay đổi văn hóa xă hội quá dồn dập và xa lạ đối với tinh thần Tin Mừng, cuộc sống của họ bị giằng co và chi phối trăm đường. Do đó đức tin của họ bị lung lay, có khi trở thành nguội lạnh. Sứ mệnh  trong môi  trường đặc thù này  gọi là Tân Phúc  Âm Hóa (new   evangelization), nhắm củng cố  đức tin của những người đang lung lay và làm cho trở nên sống động, có sức soi sáng và hướng dẫn cuộc đời trong mọi môi trường sống.

Cũng có những hoàn cảnh khó khăn đến độ gây ra khủng hoảng đức tin nặng nề hơn và do đó có những tín hữu  coi như hoàn toàn mất đức tin, sống một cuộc sống xa cách Chúa và chạy theo những tâm thức hoàn toàn xa lạ đối với tinh thần Tin Mừng. Thậm chí, có những tín hữu không c̣n coi ḿnh là con cái  Giáo hội và nhiều khi c̣n chê bỏ và chống đối các giáo huấn của Giáo Hội và ngay cả Giáo Hội. Trong trường hợp này, sứ mệnh Tân Phúc Âm Hóa trở thành Tái  Phúc Âm Hóa (re-evangelization).

 c) Đối tượng và hoàn cảnh thứ ba của sứ mệnh của Giáo Hội là các dân tộc, các nhóm người, hay các môi trường khoa học và văn hoá xă hội trong  đó Chúa Giêsu và Tin Mừng của  Ngài c̣n xa lạ, chưa  được biết và chưa  được chấp nhận hay  chỉ được biết cách lơ mơ và tại đó chưa có một   cộng đồng kitô trưởng thành. Sứ  mệnh rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa Giêsu trong hoàn  cảnh và  môi trường  này gọi  là công  tác Truyền  Giáo  (mission "ad gentes").

Trong phạm vi bài suy tư này, công tác truyền giáo được hiểu theo ư nghĩa đặc thù trên. Đó là sứ mệnh đem Tin Mừng đến cho những anh chị em chưa biết và chưa chấp nhận Chúa Giêsu như Đấng Cứu Thế, đă được Thiên Chúa hứa từ ngàn đời, ngay khi tổ tiên loài người phạm tội từ khước Thiên Chúa.

Với ư nghĩa đặc thù đó, công cuộc truyền giáo mở ra trước mắt Giáo Hội  viễn tượng của một thế giới c̣n xa lạ và xem ra mỗi ngày mỗi xa lạ hơn với Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.  2000 năm sau ngày Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, xuống thế, Ngài vẫn c̣n là một người vô danh, xa lạ đối với phần đông nhân loại. Viễn tượng đó được nói lên cách rất rơ ràng ngay từ những ḍng đầu tiên của thông điệp Sứ mệnh Đấng Cứu Thế: "Chu toàn sứ mệnh của Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế, đă được giao phó cho Giáo Hội là một viễn tượng rất xa vời. Đưa mắt nh́n t́nh trạng toàn thế giới hôm nay, hai ngàn năm sau ngày Chúa xuống thế th́ thấy là sứ mệnh đó vẫn c̣n ở trong t́nh trạng khởi đầu và chúng ta phải dồn tất cả nỗ lực để thực hiện sứ mệnh đó" (SMĐCT, 1).

Vấn đề đă trầm trọng lại càng trầm trọng hơn v́ tính cách linh động của dân số. Điều đó có nghĩa là tương quan giữa số người đă biết và tin theo Chúa Giêsu và những người chưa nhận biết Ngài không giữ nguyên t́nh trạng hiện nay, nhưng hố ngăn cách mỗi ngày mỗi thêm rộng lớn hơn. Theo nhịp tăng tiến của dân số hiện nay, những người chưa nghe biết và chưa tin Chúa cứ tăng măi. Thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế nói là "từ ngày Công Đồng Vaticanô bế mạc đến nay, số người chưa biết Chúa Giêsu đă tăng lên gần gấp đôi" (SMĐCT, 3). Để có một cái nh́n cụ thể hơn, chúng ta có thể đan cử ra đây mấy con số thống kê:

Theo thống kê của cuốn Bách Khoa Tự Điển rất nổi tiếng về các Tôn giáo do David Barrett thực hiện và sửa chữa lại mỗi năm trong tạp chí International Bulletin of Missionary Research, th́ trong năm 1990, dân số hoàn cầu là 5.297.042.000 người, trong khi đó số tín đồ của tất cả các giáo hội kitô là 1.758.777.900 người. Như vậy có nghĩa là vào năm 1990, số người chưa biết và chưa tin theo Chúa Kitô là 3.538.264.100 người (David B. Barrett, "Status of Global Mission, 1990, in context of 20th Century", in International Bulletin of Missionary Research, vol, 14, n. 1, January 1990, p. 27). Cứ theo đà tăng hiện thời của dân số th́ vào năm 2000, dân số hoàn cầu sẽ lên tới 6.158.051.000 người; số tín hữu kitô sẽ tăng lên được 2.119.341.000 người. Như thế, khi chúng ta bước vào ngưỡng cửa năm 2000, số người chưa biết và chưa tin theo Chúa Giêsu sẽ vụt lên tới con số 4.038.709.000 (Thống kê 2000: David B. Barrett, "Status of Global Mission, 1996, in context of 20th and 21st Centuries", in International Bulletin of Missionary Research, n. 1, January 1996, p. 25).

 Nếu đem so sánh số người không tin theo Chúa Kitô vào năm 1990 và năm 2000 th́ thấy là trong ṿng có 10 năm trời, con số tăng thêm 500.444.900 người. Chỉ nghĩ đến việc loan báo Tin Mừng cho số những người ngoài Kitô giáo sinh ra trong 10 năm chót này cũng đă thấy đây là công việc lớn lao trời bể và khó khăn diệu vợi rồi.

 

 

 

 

Giới hạn trong phạm vi Giáo Hội Công Giáo, Niên Giám Thống Kê chính thức do Viện Thống Kê của Giáo Hội thực hiện cũng cho thấy khuynh hướng tương tự về dân số:

 

 

(Thống kê 1978: Secretaria Status, Annuarium Statisticum Ecclesiae, 1978, pp. 43 & 69; Thống kê 1988: Secretaria Status, Annuarium Statisticum Ecclesiae, 1988, pp. 41 & 67; Thống kê 1995: Secreteria Status, Annuarium Statisticum Ecclesiae 1995, p. 34-41).

 

Theo những con số thống kê chính thức trên đây, dân số công giáo chỉ là một thiểu số nhỏ và mặc dù có tăng triển mỗi năm, tỷ lệ so sánh với dân số toàn thế giới đă giảm mất  0,19% trong khoảng thời gian 1978-1988 và 0,16% trong khoảng thời gian 1988-1995. Nh́n chung toàn diện trong suốt 17 năm ṛng, từ 1978 đến 1995,  tỷ lệ dân số công giáo đối với dân số toàn thế giới giảm xuống liên tục.

 Nếu liếc mắt nh́n vào châu Á, sẽ thấy t́nh trạng có vẻ gay go hơn nhiều. Theo thống kê của Viện Thống Kê Ṭa Thánh, dân số Á châu hiện nay là 3.353.976.000 người, trong khi số người công giáo là 94.870.000, có nghĩa là 2,82%. Nếu rút số người công giáo dồn trên quần đảo Phi Luật Tân là 55.047.000 người th́ tỉ lệ sẽ rơi tơm xuống con số 1,18%. Có nhiều nước tỉ số người công giáo chưa lên tới 1% dân số. Thử đan cử một vài nước đông dân số nhất: bỏ qua một bên Trung Hoa với dân số 1.174.444.000, trong khi số người công giáo không được rơ, Bangladesh với 217.000 người công giáo trên tổng số dân 115.200.000 th́ được 0,18%; Nhật Bản với 439.000 người công giáo trên tổng số dân 124.540.000, được 0,35%; Pakistan với 948.000 người công giáo trên tổng số dân 122.800.000, được 0,77% (Thống kê 1993: Secreteria Status, Annuarium Statisticum Ecclesiae 1993, p. 37-38).

Qua những con số  thống kê trên đây, chúng ta có được một cái nh́n cụ thể về t́nh trạng truyền giáo, nhưng đó không phải là tất cả vấn đề. C̣n nhiều khía cạnh tế vi của vấn đề truyền giáo các số thống kê không có khả năng diễn tả. Đó là những vấn đề thuộc b́nh diện văn hóa và tâm linh, chẳng hạn các trào lưu tư tưởng, các ư thức hệ, các dự án chính trị, các chương tŕnh xă hội,  các nền tâm thức, các nếp sống thịnh hành hiện nay, không những xa lạ mà có khi c̣n trái nghịch với các giá trị thiêng liêng và các tiêu chuẩn của Tin Mừng. V́ những lư do đó, công việc truyền giáo phải chạm trán với những khó khăn, những chướng ngại lớn lao xem ra không thể thắng lướt.. 

V́ thế, theo thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế, sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết và chưa tin theo Chúa Giêsu không những cần thiết mà c̣n khẩn cấp nữa và phải được coi là nhiệm vụ căn bản và là công việc phục vụ trước tiên Giáo Hội phải làm (SMĐCT, 1-2). Các công tác mục vụ và Tân Phúc Âm Hóa phải nhắm tiến đến việc huy động tinh thần để gây lên một hào khí mới trong việc dấn thân rộng răi của toàn thể dân Chúa, đưa Tin Mừng đến tận cùng trái đất v́, vẫn theo thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế  "sứ mệnh rao giảng Tin Mừng là nhiệm vụ của tất cả mọi tín hữu, của mọi giáo phận, xứ đạo, các cơ quan và các đoàn thể trong Giáo Hội" (SMĐCT, 2).

Tuy con số đông đảo những người chưa biết và chưa tin theo Chúa có làm cho chúng ta cảm thấy cách cụ thể tính cách cần thiết và khẩn cấp của công việc rao giảng Tin Mừng, nhưng thực ra lư do căn bản là chính Đức Tin của chúng ra. Đức Tin không phải là một đặc ân giữ độc quyền, nhưng là một ân phúc đă lănh nhận để chia sẻ. Một tín hữu khi đă cảm nghiệm và xác tín rằng chính Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống và v́ vậy, cuộc sống có Chúa và cuộc sống không có Chúa khác nhau diệu vợi, th́ tự nhiên thấy có bổn phận phải nói cho người khác biết. Khác chi một đoàn lữ hành phải băng qua sa mạc, tất cả đều khát nước và đi t́m nước. Những người đă t́m ra mạch nước trong sạch, có bổn phận phải loan truyền cho đoàn lữ hành. Tin hay không tin là quyền tự do của họ, nhưng ai đă t́m được nước th́ phải nói. Đây không phải là vấn đề của cảm t́nh, nhưng là ư thức trách nhiệm của một người trưởng thành, đúng như  lời xác quyết của thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế: "Công việc loan báo Tin Mừng là vấn đề của Đức Tin, là thước đo chính xác ḷng tin vào Chúa Giêsu và t́nh yêu của Ngài" (SMĐCT, 11). V́ vậy, một tín hữu, một cộng đoàn không dấn thân chia sẻ Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa phải coi là chưa thực sự trưởng thành trong Đức Tin và cần phải xét ḿnh xem đă t́m gặp được Chúa Giêsu như Đấng Cứu Thế và như nguồn sống chưa, hay chỉ là một đức tin hời hợt làm cho có lệ.

 

 

II. CHÚA THÁNH THẦN TRONG CÔNG TÁC TRUYỀN GIÁO

 

Các hoàn cảnh và các vấn đề của thế giới hôm nay rất phức tạp và, v́ vậy, công tác truyền giáo, đưa Tin Mừng đến mọi dân tộc và làm chứng nhân cho Chúa Giêsu đến tận cùng trái đất cũng đa dạng và, hơn nữa, c̣n gặp nhiều khó khăn, đứng trên phương diện loài người, coi không thể thắng vượt. Có thể đan cử một số khó khăn đă được chính thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế nói đến. Chẳng hạn, tại một số quốc gia các thừa sai truyền giáo không được phép đặt chân tới; tại một vài quốc gia khác, không những việc truyền giáo bị cấm đoán, mà cả việc trở lại đạo và việc thờ phượng cũng bị ngăn cản hoặc làm khó dễ; tại nhiều nơi khác, các khó khăn thuộc b́nh diện văn hóa: sứ điệp Tin Mừng bị coi như lạc hậu, lỗi thời hay bị coi như điều không tưởng, sự trở lại đạo bị coi như  hành động phản dân tộc và văn hóa của ḿnh.

Cũng không thiếu những khó khăn phát sinh từ chính trong ḷng dân Chúa và đây là những khó khăn gây nhiều đau khổ hơn... Có thể kể đến sự thiếu ḷng hăng say, diễn tả qua những thái độ mệt mỏi, chán chường, chạy theo thời trang, hoặc qua thái độ dửng dưng và nhất là sự thiếu ḷng vui mừng và hy vọng. Cũng phải kể đến các ngăn trở lớn lao cho tinh thần truyền giáo là sự chia rẽ, trong quá khứ cũng như hiện tại, giữa các kitô hữu, hiện tượng các quốc gia có truyền thống kitô đang đánh mất chính nguồn  gốc kitô của ḿnh, sự suy giảm về ơn gọi tông đồ tryền giáo và những gương xấu phản nghịch Tin Mừng của các tín hữu và các cộng đồng (x. SMĐCT, 35-36).

Tuy nhiên, cho dù các khó khăn lớn lao đến đâu và dù phát sinh từ  bên trong hay đến từ bên ngoài, chúng ta cũng không được nản chí, v́ việc truyền giáo là công việc của Chúa Thánh Thần. Chính Ngài đóng vai chủ động, c̣n chúng ta chỉ là những người cộng tác (SMĐCT, 36).  Cả trong thời đại này của chúng ta, Chúa Thánh Thần cũng vẫn đóng vai chính. Ngài kiến tạo Nước Thiên Chúa bằng cách tác động  tận trong tâm hồn mỗi người và làm cho hạt giống ơn cứu độ nảy nở trong những môi trường sống của con người  (x. NNTB, 45).

Bất cứ ai dấn thân trong công việc tông đồ truyền giáo, nếu biết lắng nghe tiếng nội tâm cũng sẽ thấy như  "đụng chạm" tới Chúa Thánh Thần. Đặc biệt khi có dịp tiếp xúc với các tâm hồn chân thành và bén nhậy trong lănh vực thiêng liêng, càng tấy rơ ràng hơn sự hiện diện của Chúa Thánh Thần .

Một đôi kinh nghiệm có thể đủ để cho thấy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cánh đồng truyền giáo. Vào tháng 8 năm 1994, sau khi về thăm Việt Nam, tôi sang Ấn Độ theo lời mời của Đức Cha Topo, Tổng giám mục Ranchi. Vào một buổi sáng, đó là sáng thứ sáu, tôi c̣n đang nói truyện cho các tập sinh ḍng Ursuline, Đức Cha Topo, Tổng Giám Mục Ranchi gọi giây nói bảo ngài sẽ không tới được như dự tính v́ phải đi thăm ngay một nhà xứ có 2 cha và một chủng sinh mới bị giết thảm trong đêm. Theo chương tŕnh th́ sáng sớm tôi đến đây làm lễ rồi nói truyện cho các tập sinh. Sau đó ngài sẽ tới để cùng đi thăm nói truyện một vài nơi nữa, nhưng bây giờ phải đổi chương tŕnh và cả ngày hôm sau cũng phải đổi chương tŕnh để đi đồng tế lễ an táng hai cha và thầy chủng sinh này. Trong bài giảng, Đức Tổng Giám Mục nói về t́nh yêu dâng hiến của Chúa Giêsu cho mọi người có mặt. Nhà thờ chật cứng. Đặc biệt một điều là lẫn trong đám đông giáo dân, có cả một làng Ấn giáo. Thân nhân và dân làng thầy chủng sinh đó! Thầy chủng sinh này mới được sai về đây chừng hai tháng nay. Thầy là con một trong gia đ́nh và là người duy nhất đă trở lại đạo. Nếu không có sự hiến dâng trong cái chết thê thảm này, ai trên đất Ấn Độ có sức quy tụ được cả một làng Ấn giáo để nói về Chúa Giêsu và t́nh yêu dâng hiến của Ngài? Chưa biết ai là thủ phạm, nhưng theo một vài dữ kiện, người ta hồ nghi đó là quái thai của dân ấn giáo quá khích, muốn nhổ mấy cái gai trước mắt và làm khiếp đảm tinh thần giáo dân trong vùng. Nhưng thay v́ khiếp đảm, giáo dân lại thêm hăng say. Thực là mầu nhiệm con đường của Chúa và sâu thẳm thay ư định của Ngài! (Rom 11,33). Cũng chính v́ vậy, công việc truyền giáo tuy gặp khó khăn nhưng lại rất hứng thú v́ chính trong những khó khăn, người tông đồ lại cảm được bàn tay thần linh của Chúa Thánh Thần, khi ẩn khi hiện, nhưng luôn rất gần gũi để uốn nắn, để dẫn dắt và để tăng sức.

Tôi lại nhớ đến một sự kiện khác. Năm 1980, lần đầu tiên đi Mexico cộng tác giảng huấn trong khóa học hỏi về truyền giáo. Cha giám đốc của khóa học hỏi không đưa địa chỉ, nhưng nói: "Cha cứ cho biết ngày giờ cha tới phi trường ở thành phố bên cạnh, chúng tôi sẽ ra đón cha tận phi trường". Đến khi tôi tới phi trường, chờ tới 2 giờ đồng hồ không thấy bóng một ai đến đón. Sau cùng phải gọi Taxi vào nhà thờ chính toà hỏi, nhưng không ai biết khoá học hỏi đó ở đâu. Sau cùng một cha nói: "Chỉ có một cách, cha lấy xe đến thành phố đó và t́m". Sau đó, ngài đưa tôi ra bến xe, thảy lên xe. Khi tới thành phố, vừa bước xuống xe, có một bà đến ngay trước mặt và nói: "Cha đi với tôi, tôi biết nơi cha phải đi" và tôi ngoan ngoăn theo bà. Ra tới xe đă có một thanh niên ngồi sẵn trong xe, nhưng anh không hề bao giời nh́n lại đàng sau. Khi tới cửa một ngôi nhà, bà ta nói: "Đây là nhà cha phải tới". Bước xuống xe, tôi ngỏ ư muốn trả tiền, bà đó ra dấu hiệu không nhận  rồi lên xe đi. Tôi đă tưởng đó là người cha giám đốc khóa học hỏi sai đến đón, nhưng không. Khi bước chân vào sân, cha giám đốc vô cùng mừng rỡ: "Cha làm sao mà tới đây được? Chúng tôi đánh mất thư của Cha, ba ngày rồi tôi cho cô thư kư ra sân bay chờ cha với tấm bảng tên cha, nhưng không thấy cha tới, cô ta nản bỏ về...". Tôi sực nhớ lại: Trước khi bỏ Roma, tôi có đi thăm một mẹ bề trên sáng lập ḍng và khi từ giă,  mẹ bề trên nói: "Tôi sẽ cầu nguyện cho cha, Đức Mẹ sẽ dẫn đường cho cha". Có người cho người đàn bà đó là Đức Mẹ. Không biết có phải là Đức Mẹ hiện thân hay không, nhưng chắc chắn một điều là có bàn tay Chúa Quan Pḥng và sự che chở của Đức Mẹ. Thánh Thần Chúa luôn hiện diện để dẫn dắt và trợ lực.

Theo tông thư Rao Giảng Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phaolô VI (số 75) và thông điệp Sứ Mệnh Đấng Cứu Thế của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (số 24-30), Chúa Thánh Thần tác động cả trên hai môi trường: Giáo Hội và trong Giáo Hội và nơi mỗi người tông đồ,  ngoài thế giới và nơi mỗi người thành tâm đón chờ Tin Mừng.

 

1. Trong Giáo Hội và nơi mỗi người tông đồ truyền giáo

 

a) Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội và soi sáng tâm trí người môn đệ Chúa Giêsu để có thể hiểu được mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa và chương tŕnh cứu độ nhân loại của Ngài (Gio 16,13; x. 14,26).

b) Chúa Thánh Thần c̣n hướng dẫn để người môn đệ có thể t́m gặp được Chúa Giêsu và cảm nghiệm được mầu nhiệm của Ngài để loan truyền và làm chứng cho Chúa Giêsu với tất ḷng can đảm và xác tín (x. Gio 15,26‑27). Với ánh sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, lời rao giảng của người tông đồ truyền giáo sẽ không c̣n là một lư thuyết trừu tượng, nhưng là loan tryền một kinh nghiệm sống, có sức đành động tâm khảm của người thành tâm thiện chí: "Điều chúng tôi đă nghe, điều chúng tôi  đă thấy tận mắt, điều chúng tôi đă chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đă chạm đến, đó là Lời sự sống... Chúng tôi đă thấy và chúng tôi làm chứng... Chúng tôi loan báo cho anh em để anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi và chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha và Con Người là Chúa Giêsu Kitô" (1 Gio 1,1‑3).

c) Chúa Thánh Thần thúc đẩy các môn đệ Chúa Giêsu xích lại gần nhau thành cộng đoàn sống trong tinh thần hiệp nhất để trở thành Giáo Hội của Chúa (x. TĐCV 2,32-47) và làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh (x. SMĐCT 26; RGTM 41-42).

d) Chúa Thánh Thần ban cho người tông đồ tinh thần tông đồ truyền giáo của Chúa Giêsu để sai đi rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa Giêsu. Đồng thời, Chúa Thánh Thần cũng đồng hành với người tông đồ để nhắc nhở và gợi ư cho người tông đồ những điều phải làm và phải nói (x. RGTM, 75) để người tông đồ có thể can đảm rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng (cf. RMi 24), nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn như chính Chúa Giêsu đă hứa:  "Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền v́ Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết. Khi người ta nộp anh em, th́ anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói ǵ, v́ trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói ǵ: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em" (Mt 10,18-20).

 

2. Ngoài thế giới và nơi mỗi người thành tâm đón chờ Tin Mừng

 

Chúa Thánh Thần không chỉ hiện diện và tác động trong Giáo Hội, nhưng Ngài c̣n hiện diện và hoạt động cả nơi các môi trường ngoài phạm vi Giáo Hội, ngay cả trong tâm hồn những người lương dân (x. SMĐCT, 28-29). Theo sách Tông Đồ Công Vụ (chương X), Cornelio, người lương dân đầu tiên trở lại đạo, trước khi  gặp thánh Phêrô và được rửa tội, ông và gia đ́nh ông đă sống dưới ánh sáng và tác động của Chúa Thánh Thần. Khi đă được chuẩn bị, Chúa Thánh Thần một đàng soi sáng ông đi t́m thánh Phêrô, đàng khác thúc đẩy thánh Phêrô đi t́m ông. Khi Cornelio lắng nghe thánh Phêrô loan báo Tin Mừng, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên ông và gia đ́nh ông sung măn hơn.

Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động trong ḷng mọi người thành tâm để chuẩn bị tâm hồn họ. Khi tới giờ tràn đổ ơn thánh cách sung măn, Chúa Thánh Thần sai người tông đồ đến loan báo Tin Mừng và hỗ trợ người tông đồ trong sứ vụ, soi sáng cho người tông đồ những hành động, những lời nói thích hợp, có sức đánh động tâm hồn người thành tâm đón nhận. Đồng thời, Chúa Thánh Thần cũng tác động trong tâm hồn người đó để họ có thể hiểu và đón nhận Tin Mừng ơn Cứu Độ (x. RGTM, 75).  

Nhưng Chúa Thánh Thần không  chỉ tác động trong thâm cung nội tâm của các cá nhân, mà cũng hướng dẫn hướng đi của lịch sử và làm phát sinh các nền văn hóa tâm linh, các sáng kiến tốt, các lư tưởng cao thượng... (x. SMĐCT, 28).

Xem như vậy th́ công việc truyền giáo thật hứng thú, nhưng cũng khó khăn diệu vợi. Khó khăn không phải v́ các cản trở gặp phải trên các nẻo đường truyền giáo, nhưng v́ phải làm công việc của Thiên Chúa, phải cộng tác với Chúa Thánh Thần. Cho nên cái khó là làm sao nhận ra được con đường của Ngài mà theo. Để nhận ra con đường của Chúa Thánh Thần, phải biết nh́n bằng con mắt thứ ba mà các nhà tu đức gọi là con mắt nội tâm. Kết quả của công việc truyền giáo tùy thuộc vào khả năng của Giáo Hội và, trong Giáo Hội, mỗi tín hữu, nhất là các nhà thừa sai truyền giáo, có biết lắng nghe và bước theo con đường Chúa Thánh Thần dẫn đi hay không.

 

 

III. ĐỜI SỐNG TÂM LINH: SẴN SÀNG VÂNG THEO CHÚA THÁNH THẦN

 

Trong tông thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Tới, sau khi đă cắt nghĩa về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Cha lấy Đức Mẹ làm mẫu gương cho Giáo Hội trong năm thứ hai chuẩn bị đón mừng Năm Thánh, bước vào Ngàn Năm Thứ Ba: "Mẹ Maria, Đấng đă cưu mang Ngôi Lời nhập thể do quyền năng của Chúa Thánh Thần và sau đó trong tất cuộc sống đă sống theo tác động nội tâm của Chúa Thánh Thần, phải được chiêm ngưỡng và học theo trong suốt năm nay, trước tiên như người nữ sẵn sàng vâng theo tiếng Chúa Thánh Thần, như người biết thinh lặng và lắng nghe, người sống trong hy vọng, biết đón nhận thánh ư Thiên Chúa như Abramo 'vẫn tiếp tục tin cậy cho dù không c̣n một hy vọng nào' (Rom 4,18)" (NNTB, 48).

Đó là thái độ của nhà chiêm niệm thần bí, người nhậy cảm và tuyêt đối  vâng theo các tác động của Chúa Thánh Thần trong nội tâm và để cho tiếng nội tâm hướng dẫn mọi hành động và tất cả cuộc sống. Sống triền miên trong thái độ lắng nghe để t́m kiếm và lần ṃ theo tiếng nội tâm. Chính v́ vậy mà các nhà tu đức thường gọi đời sống chiêm niệm thần bí là đời sống thụ động, nhưng lại linh động tích cực hơn đời sống tích cực. 

Đời sống tích cực là mẫu sống khi người tông đồ băn khoăn lập chương tŕnh hoạt động, tính toán dựa theo tiêu chuẩn loài người. Đời sống thụ động bắt đầu khi người tông đồ biết lắng nghe tiếng  Chúa Thánh Thần nói trong nội tâm và để cho tiếng nội tâm hướng dẫn. V́ vậy, người tông đồ nhiều khi đi những nơi không muốn, làm những điều không thích và do đó, trở nên rất linh động tích cực và can trường. Cuộc đời của các tiên tri, các thánh Tông Đồ, các nhà đại truyền giáo là như vậy. Và đó là ư nghĩa lời Chúa nói với thánh Phêrô: "Khi ngươi c̣n trẻ, ngươi tự mặc áo lấy và ngươi đi nơi ngươi muốn. Nhưng khi đă về già th́ ngươi giang tay để người khác choàng áo cho và dẫn ngươi đi nơi ngươi không muốn" (Gio 21,18). Già trẻ đây không tính về tuổi tác, nhưng về sự trưởng thành trong đời sống thiêng liêng, và người khác ở đây không ai khác hơn là Chúa Thánh Thần. Chính v́ vậy mà người tông đồ trở nên can đảm và tích cực hơn trước, v́ không dựa theo sự khôn ngoan của loài người, nhưng dựa trên sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Nhưng không phải tất cả mọi tiếng nội tâm đều là tiếng Chúa Thánh Thần. Cũng có tiếng của tư lợi, tiếng của danh vọng, tiếng của ảo tưởng, và cả tiếng của thần dữ t́m cách đánh lừa người tông đồ để lái đi theo đường khác. V́ vậy, sống theo tiếng Chúa Thánh Thần đ̣i hỏi một cuộc hành tŕnh thiêng liêng có thể tóm lại trong ba nấc chính yếu:

a) Tự do nội tâm: đời sống tông đồ truyền giáo đ̣i hỏi, trước nhất, cuộc hành tŕnh thanh luyện để có được sự Tự Do Nội Tâm. Nếu không có tự do nội tâm, người tông đồ sẽ không nghe thấy Tiếng Huyền Nhiệm, mà chỉ nghe thấy lộn xộn muôn tiếng ồn ào chen lấn. Cần phải thanh luyện cho ḷng ḿnh được tự do thanh thản trước tất cả thụ tạo. Chúa Giêsu c̣n nói là phải từ bỏ chính bản thân và sự sống riêng ḿnh. Nếu người tông đồ không biết từ bỏ tất cả, coi chúng tất cả là tương đối th́ chúng sẽ trở thành ngẫu tượng trong ḷng và lúc đó, người tông đồ chỉ nghe thấy tiếng các ngẫu tượng chứ không nghe thấy tiếng Chúa. Trái lại, nều người tông đồ biết từ bỏ tất, th́ không mất mát ǵ, mà lại t́m được tất cả một cách trung thực. Chúng sẽ trở lại trúng vị trí của chúng trong con tim của người tông đồ. Đó là ư nghĩa lời Chúa trong Tin Mừng thánh Matêo: "Ai yêu cha, yêu mẹ hơn Thầy, không đáng thuộc về Thầy... Ai muốn bảo vệ mạng sống ḿnh th́ sẽ mất sống; c̣n ai thí mạng sống ḿnh v́ Thầy và v́ Tin Mừng, th́ lại được sống" (Mt 10,37-39). Nói cho cùng th́ vấn đề không phải do các thực tại gây lên, nhưng tại con tim của người tông đồ làm chúng thành méo mó. Không phải là các thực tại xấu, nhưng v́ con tim của con người sa đọa.

Chính v́ vậy mà đời sống thiêng liêng tông đồ thường được ví von như cuộc hành tŕnh vào sa mạc. Khách lữ hành muốn băng qua sa mạc phải lên đường với ít hành trang. Nhưng rồi trong cuộc hành tŕnh sẽ thấy là số ít hành trang mang theo vẫn c̣n qúa nặng, quá cồng kềnh và cản trở cho cuộc hành tŕnh. V́ vậy, từ từ phải vất bỏ tất cả những ǵ không tối cần thiết, và sau cùng phải vất tất cả, chỉ giữ lại một vật duy nhất. Đó là nước. Đi trong sa mạc, điều cần thiết duy nhất là nước. Có thể thiếu tất cả, nhưng nếu thiếu nước th́ sẽ chết khô trong sa mạc.

b) Thực với ḷng ḿnh: tất cả mọi hoạt động của cuộc đời tông đồ chỉ nhắm có một mục đích duy nhất: đem Chúa đến cho người khác; phục vụ Chúa và làm vinh danh Chúa, hay nói theo khẩu hiệu của thánh Ignacio "ad majorem Dei gloriam". Nhưng lắm khi nói là v́ Chúa, t́nh thực là v́ những lư do khác. V́ vậy, cần phải thực với ḷng ḿnh. Dám nh́n thẳng mặt các động cơ thúc đẩy làm căn nguyên cho các lựa chọn và hành động. Luôn luôn trở về nội tâm để ḍ hỏi ḷng ḿnh và gọi mỗi căn nguyên với chính tên của nó. Đó, nhà chiêm niệm thần bí vâng theo tác động của Chúa Thánh Thần là vậy đó. Không phải là người có nhiều kinh nghiệm xuất thần ngây ngất, nhưng thiết yếu phải là người có can đảm nh́n nội tâm để không dối ḷng ḿnh.

     c) Chết cho chính bản thân. Chính v́ có can đảm nh́n thẳng sự thật để khỏi tự dối ḿnh mà nhà chiêm niệm thần bí trong hành động dần dần tiến từ đời sống tông đồ trong đó ḿnh là trung tâm điểm để bước sang đời tông đồ trong đó Chúa Giêsu là trung tâm điểm. Trong chiều hướng đó, đời tông đồ truyền giáo là một cuộc chiến đấu liên lỉ và gay go để đưa ḿnh ra ngoài và đưa Chúa Giêsu vào trong, tận trung tâm cuộc sống và mọi hoạt động. Cuộc chiến này đưa đến một cái chết thực sự cho chính bản thân ḿnh. Chỉ khi người tông đồ biết chấp nhận chết cho chính ḿnh mới có thể phục vụ Chúa thực sự. Bằng không th́ chỉ là cái vỏ bề ngoài.

 

Kết luận

 

Dưới ánh sáng của sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, sứ mệnh truyền giáo mở ra trước mắt Giáo Hội một chân trời chứa chan hy vọng v́ đàng sau những áng mây đen che phủ bầu trời, có những v́ sao lấp lánh và mặt trời luôn tuôn ánh sáng và sức nóng. Đàng sau những hiện tượng mập mờ của lịch sử và những chướng ngại vật con người giăng ra, đang chập chờn những dấu hiệu của bàn tay Chúa Thánh Thần đang từ từ thanh luyện và soi sáng tâm hồn con người và uốn nắn để hướng dẫn những hướng đi của lịch sử. Bổn phận của các tín hữu, môn đệ Chúa Giêsu là biết nhận ra những dấu hiệu đó và bắt tay cộng tác để Chúa Thánh Thần có thể thi thố sức mạnh thần linh của ơn thánh cứu độ nhân loại.